Trang chủ
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng và giải pháp
- Được viết bởi: Trần Thanh Ái
- Chuyên mục: Tổ chức và quản lí giáo dục
PGS-TS Trần Thanh Ái, Đại học Cần Thơ
(Tham luận tại Hội nghị toàn quốc tổ chức tại Đại học Sài Gòn, 5/2010, tr 42-53)
Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”, và năm 2011 là hạn cuối cùng để các trường liên quan phải chuyển đổi sang hệ thống đào tạo mới này. Thế nhưng qua gần 3 năm thực hiện thí điểm ở một số trường đại học trên cả nước, có rất nhiều ý kiến nhận xét về thuận lợi và khó khăn của việc thực hiện quy chế này. Vậy đâu là nguyên do cốt lõi của những khó khăn đó? Bài viết này cố gắng tìm lời giải cho các vấn đề mà thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam đang đặt ra.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ thống tín chỉ đã được áp dụng vào việc đào tạo ở bậc đại học từ lâu trên thế giới, ở các đại học danh tiếng của nước phương Tây. Hệ thống này cũng không phải là xa lạ đối với Việt Nam: trước 1975, Viện Đại học Cần Thơ đã từng áp dụng hệ thống tín chỉ trong các Đại học Văn Khoa, Đại học Luật Khoa và Đại học Khoa học. Sau 1975, nhiều giảng viên của Trường Đại học Cần Thơ đã được đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở nhiều trường Đại học Âu-Mỹ. Những kinh nghiệm ấy thật là quý giá cho việc xây dựng chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (Quyết định 43/QĐ-BGD&ĐT). Thế nhưng khi nhận định về thực trạng chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ hiện nay của các trường đại học ở Việt Nam, M. Zjhra, một học giả của chương trình Fulbright, đưa ra nhận xét sau đây:
Chi tiết: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng và giải pháp
Một số vấn đề cơ bản cần giải quyết để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam
- Được viết bởi: Trần Thanh Ái
- Chuyên mục: Tổ chức và quản lí giáo dục
PGS-TS Trần Thanh Ái, Khoa Sư phạm, Đại học Cần Thơ
(Tham luận trình bày tại hội thảo khoa học về đổi mới căn bản và toàn diện tháng 12/2011 tại Đại học Cần Thơ, có sự hiện diện của Bộ trưởng Phạm Vũ Luận và phái đoàn cấp cao của Bộ GD&ĐT)
Ngày 9/11/2011, Chương trình phát triển LHQ (UNDP) công bố báo cáo phát triển con người, theo đó, nước ta được xếp hạng 128/187 quốc gia, trong khu vực ASEAN chỉ đứng trên Lào và Campuchia. “Nếu dựa vào số liệu của báo cáo phát triển con người của UNDP, thành tích giáo dục của Việt Nam dường như đang thụt lùi” (Giáp văn Dương, 2011, tr. 25).
Đi vào những vấn đề cụ thể, chỉ cần lướt qua báo chí Việt Nam trong những ngày trước và sau Ngày Nhà giáo Việt Nam vừa qua cũng có thể cảm nhận được rằng ngành giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông, còn có quá nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết. Giáo viên đương nhiệm thì mệt mỏi, không an tâm công tác, chất lượng đào tạo thì phập phồng (học sinh lớp 7 nhưng mù chữ, báo Thanh Niên, 5/12/2011), thi cử thì nhếch nhác (như vụ sửa đáp án tùy tiện trong kỳ thi Tú tài 2011 vừa qua ở ĐBSCL), sách giáo khoa “chuẩn mà không chuẩn”, “không thể liệt kê hết sạn” (báo Tuổi trẻ, 5-6-7-8/12/2011), hiện tượng học sinh bỏ học ngày càng tăng... Ngành sư phạm ở các đại học thì ngày càng mất dần sức hút đối với thí sinh thi vào đại học, nên không thể tuyển chọn được người tài... Tóm lại, như tựa một bài báo nói về tình hình dạy văn, giáo dục nước ta hiện nay như là một “bức tranh không hồn” (báo Thanh Niên, 6/12/2011).
Trong bài tham luận này, tôi chỉ đề cập đến một số vấn đề cơ bản cần giải quyết để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục của nước ta. Điều đó có nghĩa là còn nhiều vấn đề cơ bản khác cần phải giải quyết để khắc phục những nhược điểm và khuyết tật hiện nay, để thực sự đưa giáo dục trở thành quốc sách của đất nước.
Chi tiết: Một số vấn đề cơ bản cần giải quyết để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam
Chủ nghĩa đế quốc ngôn ngữ trong thời đại toàn cầu hoá và vấn đề bảo vệ tiếng Việt
- Được viết bởi: Trần Thanh Ái
- Chuyên mục: Tiếng Việt
PGS-TS Trần Thanh Ái, Đại học Cần Thơ(*)
Trong lịch sử phát triển của loài người, chủ nghĩa đế quốc ngôn ngữ luôn song hành cùng chủ nghĩa đế quốc thực dân để đồng hoá các dân tộc bị thống trị về mặt ngôn ngữ và văn hoá. Tham luận này nhằm giới thiệu đôi nét về chủ nghĩa đế quốc ngôn ngữ trong lịch sử hiện đại mà nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến trong thời gian gần đây, trong đó có Robert Phillipson, cựu thành viên của Hội đồng Anh (British Council), với tác phẩm Linguistic Imperialism (Nhà xuất bản Oxford University Press, 1992). Từ thực tiễn thế giới đó, chúng tôi sẽ liên hệ đến tình hình sử dụng tiếng nước ngoài xen vào tiếng Việt trên báo chí Việt Nam hiện nay mà dư luận gần đây rất quan tâm. Cuối cùng, tác giả cũng thử đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn sự trong sáng và tăng sức đề kháng của tiếng Việt trước nguy cơ mới trong thời kỳ hội nhập thế giới.
Chi tiết: Chủ nghĩa đế quốc ngôn ngữ trong thời đại toàn cầu hoá và vấn đề bảo vệ tiếng Việt
Khoa học quản lí giáo dục Việt Nam: cần sự cân bằng giữa kinh nghiệm thực tiễn và nghiên cứu khoa học
- Được viết bởi: Nguyễn Tấn Đại
- Chuyên mục: Tổ chức và quản lí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Tấn Đại1
[Bài bình sách: Trần Kiểm. Khoa học quản lý giáo dục : Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Giáo dục, 2008.]
Trong tác phẩm này, Trần Kiểm, giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã khái lược sự ra đời của một chuyên ngành khoa học mới, dù chưa hoàn chỉnh, trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam. Tác giả đã cố gắng tổng hợp, đối chiếu những học thuyết lí luận chủ đạo vào thực tiễn giáo dục nhằm xây dựng một mô hình mới cho khoa học quản lí giáo dục Việt Nam.
“Bảng xếp hạng viện hiệu Scimago” và việc đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
- Được viết bởi: Nguyễn Tấn Đại
- Chuyên mục: Xuất bản và chất lượng nghiên cứu khoa học
Sử dụng các bảng xếp hạng quốc tế làm thước đo đánh giá chất lượng giáo dục đại học hay nghiên cứu khoa học là một nhu cầu tất yếu không chỉ ở Việt Nam mà cả ở hầu hết các nước khác. Tuy nhiên, hiểu và sử dụng các bảng xếp hạng này sao cho hợp lí lại là một câu chuyện khác. Từ năm 2009, một bảng xếp hạng các đơn vị nghiên cứu khoa học (SIR) của nhóm nghiên cứu SCImago (Tây Ban Nha) đã ra đời và được công bố mỗi năm một lần. Năm 2011 có ba đơn vị Việt Nam được xếp hạng gồm Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Đại học Quốc gia TP. HCM và Đại học Quốc gia Hà Nội, với kết quả có vẻ như đi ngược lại những nhận định chung lâu nay về tình hình nghiên cứu khoa học trong nước. Chính điều đó mà không ít nhà quản lí khoa học và giáo dục Việt Nam cảm thấy ngần ngại và tỏ ra thận trọng đối với bảng xếp hạng này.
Trong bài này, tác giả phân tích khái quát bối cảnh ra đời và cơ sở phương pháp luận của bảng xếp hạng do SCImago xây dựng, từ đó rút ra những nhận định về ưu nhược điểm của bảng xếp hạng này, cũng như kiểm chứng tính chính xác của dữ liệu đối với ba đơn vị Việt Nam. Đồng thời, một số kết luận và khuyến nghị cũng được nêu ra nhằm hướng tới việc tổ chức và quản lí tốt hơn các hoạt động nghiên cứu và xuất bản khoa học.
Trang 7 / 9