Trong một dịp họp mặt cộng tác viên của một nhà xuất bản, tôi ngồi đối diện một bạn nam rất năng động, được đào tạo trình độ cao ở nước ngoài, là một diễn giả quen thuộc trong các sự kiện phổ biến văn hoá đọc. Khi đề cập đến việc ngày càng có nhiều bạn trẻ gặp vấn đề trong giao tiếp với cha mẹ, bạn nam kia nói: “Đó là do khi nói chuyện với người lớn các bạn không ‘express’ [diễn đạt] được cái ‘idea’ [suy nghĩ] của mình.” Tôi nghe mà lòng đầy băn khoăn, khi chính người đi truyền cảm hứng về văn hoá đọc cũng không nói được trọn vẹn một câu đơn giản bằng tiếng mẹ đẻ.
| Bản gốc của bài đã đăng trên chuyên mục Góc nhìn, báo điện tử VNExpress, ngày 04/01/2026, dưới nhan đề “Tiếng Việt nửa tây nửa ta”, với một số chỗ đã được toà soạn biên tập lại. |
Nhìn lùi xa một chút, các bậc tiền bối như Trần Văn Khê hay Bùi Văn Nam Sơn khi còn trẻ cũng đã từng đi du học rồi sinh sống và làm việc ở nước ngoài suốt mấy chục năm. Nhưng khi về nước, trong mọi cuộc giao tiếp riêng tư hay nói chuyện trước đám đông, các cụ vẫn nói tiếng Việt đâu ra đấy, không chen lẫn một từ tiếng nước ngoài nào. Đó là minh chứng sống động cho một thực tế: Tiếng Việt hiện nay thuộc nhóm 20 ngôn ngữ có đông người sử dụng nhất trên thế giới, với cấu trúc ngữ pháp và từ vựng đủ hoàn thiện để diễn tả hầu hết mọi ý tưởng trong đời sống hàng ngày, các vấn đề văn hoá xã hội tổng quát hay các khái niệm học thuật chuyên sâu.
Dĩ nhiên, sự “hoàn thiện” đó không có nghĩa là “hoàn hảo”, bởi không có ngôn ngữ nào trên thế giới là “hoàn hảo”. Tiếng Việt cũng không ngoại lệ, luôn có những khiếm khuyết không ngừng là chủ đề cho các cuộc tranh luận. Cuộc bút chiến có lẽ là đầu tiên đã diễn ra cách đây 108 năm, trên Nam-Phong Tạp-chí.
Nhân vật khởi xướng là một người xứ Nam Kì kí tên Ng.-H.-V. với bài viết “Thư ngỏ cho chủ-bút Nam-Phong” (là Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác), dài 12 trang, đăng số 16 năm 1918. Ông trách Nam-Phong “dùng nhiều chữ Hán quá, nên coi khó hiểu lắm”, và cho rằng nên dùng “tiếng mẹ đẻ” để tạo ra các từ mới, chỉ khi nào “cùng cực chẳng có thế nào đặt được tiếng cho gọn ghẽ, chững sẽ mượn tiếng nước khác mà dùng”. Một số từ ông đề xuất làm ví dụ như “Balông máy” hoặc “Tầu bay” cho “Ballon dirigeable”, thay vì “Tự-do khinh-khí cầu”; “sao đất” cho “Planète”, thay vì “Hành-tinh”; “Mặt-trăng” cho “Satellite”, thay vì “Tùng-tinh”… Cuối bài, Ng.-H.-V. nêu ra mười điều cần làm để thúc đẩy “Hợp-một tiếng Annam” (dịch từ tiếng Pháp “unification de la langue Annamite”) trong cả ba miền.
Có nhiều điểm thú vị khi nhìn lại cuộc bút chiến cách đây hơn một thế kỉ, với trên dưới 20 bài tranh luận đăng trong nhiều số báo từ năm 1918 đến tận năm 1920. Số là, trước tình hình tiếng Pháp đang thịnh hành và chữ Hán ngày một suy yếu, chủ bút An-hà-nhật-báo Võ-văn-Thơn chủ trương phiên chuyển tiếng Pháp thành âm đọc tiếng Việt, như “Ghê-ô-mết” cho “Géomètre”, thay vì “Họa-đồ” hay “Kinh-lý”. Trong bài viết của mình, Ng.-H.-V. phản bác quan điểm này, mà muốn dùng từ “Đo đất”, rồi thêm “quan”, “ông”, “ông quan”… phía trước để chỉ những người làm công việc ấy.
Thế nhưng, ý tưởng Ng.-H.-V. đã chịu nhiều phê phán, cho rằng ông quá cực đoan phủ nhận ý nghĩa của lượng từ gốc Hán phong phú đã hoà nhập vào tiếng Việt suốt cả ngàn năm. Ngay cả khái niệm “tiếng mẹ đẻ” (từ tiếng Pháp “langue maternelle”) cũng bị một số người đương thời chê là thô tục, không chấp nhận sử dụng. Mặt khác, có người thấy rằng Nam-Phong không chuộng chữ Hán quá mức, vì vẫn có dùng nhiều từ mới tiếng ta (máy bay, tàu bay, tàu lặn, tàu ngầm, tàu khói, xe lửa…) hay tiếng Tây phiên chuyển (sà-phòng, ki-lô-mét, [nhà] ga, [rượu] vang, boong [tàu], xà lan…)
Cần nhớ rằng vào thời điểm ấy, hầu hết những từ ngữ không thuộc lời ăn tiếng nói hàng ngày hoặc dùng trong thi ca và thư tịch cổ điển thì đều rất xa lạ với công chúng bình dân. Vì lẽ đó mà Nam-Phong luôn dành một phần “đất” đáng kể dưới các trang báo để giải nghĩa các từ mới, kèm theo chú thích từ gốc tiếng Hán và/hoặc tiếng Pháp. Như một bài của Phạm Quỳnh (số 18 năm 1918) đã chú thích đến 18 từ và cụm từ mới: hợp-nhất, ý-kiến, phụ-họa, nhất-trí, tình-trạng, ảnh-hưởng, nguyên-âm, mai-một, tiền-bối, định thể, phương-châm, văn-pháp, châm-chước, liên-lạc, mật-thiết, phôi-thai, nhật-tẩm-nguyệt-tí (ngày tẩm một tí, tháng tẩm một tí, từ từ mà thành), văn-liệu. Hay một bài khác của Thượng-Chi (số 22 năm 1920) chú giải ba từ: siêu-hình, ngụy-biện, tỉ-lệ…
Hơn 100 năm sau, nhiều từ bị tiền nhân cho là lạ lẫm, thậm chí thô tục, nhất mực phản đối, đã trở thành bình thường và được hậu thế chấp nhận rộng rãi. Một số từ ban đầu có ý nghĩa khác, nay vẫn tồn tại nhưng nội hàm có ít nhiều thay đổi. Một số từ trở nên hiếm gặp, hoàn toàn biến mất hoặc được thay thế bằng từ khác. Ba mức độ chấp nhận (hoặc không) ấy có thể gặp ở cả các từ thuần Việt, từ Hán Việt, từ mượn tiếng Pháp, tiếng Anh viết nguyên dạng hay qua phiên chuyển...
Quay lại câu chuyện ban đầu, có thể thấy việc chen tiếng nước ngoài vào câu nói tiếng Việt không phải là chuyện lạ. Đó là lựa chọn của người nói, vì nhiều lí do. Có thể là vì thiếu từ vựng tiếng Việt, có thể để tiện lợi trong giao tiếp, mà cũng có thể chỉ vì tính thời thượng. Đã từng có một thời, những người Việt biết tiếng Pháp đã dùng “toa” (toi) và “moa” (moi) để đơn giản hoá cách xưng hô bản thân (ngôi thứ nhất) với người đối diện (ngôi thứ hai). Nhưng lối Tây hoá giản tiện ấy đã biến mất sau vài chục năm, kể cả những người nói tiếng Pháp hiện nay cũng không dùng.
Không chỉ từ vựng, cả ngữ pháp tiếng Việt cũng gặp hiện tượng Tây hoá ngày càng nhiều. Ví dụ, chúng ta thường nói “Tôi từ dưới quê lên [thành phố]”, “Anh Nguyễn Văn A từ Hà Nội vào [TP. HCM]”, hay “Chị Trần Thị B từ Đà Nẵng ra [Hà Nội]”… Nhưng trên truyền hình, người dẫn chương trình lại nói: “Anh Lê Tấn C đến từ Cần Thơ”. Đây là lối dịch ngược từ tiếng Anh “come from” hay tiếng Pháp “venir de”.
Một ví dụ khác, do nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ nêu ra trong cuộc nói chuyện ở Hội nhà báo Việt Nam năm 1965. Người Việt thường nói: “Thành phố bị máy bay địch oanh tạc”, nhưng lối viết Tây hoá sẽ là: “Thành phố bị oanh tạc bởi máy bay địch”. Các câu Tây hoá có thể không sai về cấu trúc ngữ pháp, nhưng không phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt. Ban đầu nghe có vẻ nghịch tai, đọc có vẻ chướng mắt, nhưng cứ lặp đi lặp lại lâu dần thì trở nên quen, rồi có thể thành ra mặc nhiên đúng.
Một từ mới thuần Việt hay Hán Việt, một từ tiếng nước ngoài chen vào nguyên dạng hay qua phiên chuyển, một lối nói lạ tai… bao giờ cũng xuất phát từ một cá nhân. Từ đó lan ra cộng đồng ngôn ngữ nhỏ nhất quanh họ, gọi là nhóm ngôn ngữ. Một thầy giáo dạy ngoại ngữ cho sinh viên chuyên ngữ hoàn toàn có thể nói: “Tuần sau chúng ta sẽ bắt đầu học môn English Linguistics” (thay cho “Ngôn ngữ học tiếng Anh”). Nhân viên Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài hoàn toàn có thể dùng chen các từ ngữ tiếng nước ngoài khi làm việc với nhau vì tính tiện lợi nghề nghiệp.
Trong lịch sử xa xưa, ngôn ngữ nhóm thường phổ biến giữa những người có học chữ với nhau. Xã hội càng phát triển thì ngôn ngữ nhóm càng mở rộng thêm ra thành ngôn ngữ nghề nghiệp dùng trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề, hội đoàn, tổ chức... Nhưng khi vượt khỏi ranh giới của nhóm ngôn ngữ, cách nói chen hay từ ngữ mới chưa hẳn dễ dàng được chấp nhận. Bởi khi đó cộng đồng ngôn ngữ trở nên rộng lớn hơn nhiều, gọi là ngôn ngữ của toàn dân.
Thêm vào đó là tác động của chính sách ngôn ngữ, của các phương tiện truyền thông đại chúng, của mạng xã hội. Một thói quen ngôn ngữ cá nhân có thể từ từ lan toả mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm thành ngôn ngữ nhóm, rồi ra toàn xã hội để trở thành ngôn ngữ toàn dân. Vấn đề là, mỗi người trong phạm vi lựa chọn của mình sẽ làm gì, để một trăm năm sau các thế hệ con cháu sẽ không phải bàn lại câu chuyện của hôm nay, như chúng ta đang nhìn lại câu chuyện của hơn một trăm năm trước.